Giáo án môn Ngữ văn 11 - Thực hành về thành ngữ, điển cố

Giáo án môn Ngữ văn 11 - Thực hành về thành ngữ, điển cố

1/ BÀI TẬP 1: SGK Tr.66

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

 Eo sèo mặt nước buổi đò đông

 Một duyên hai nắng âu đành phận

 Năm nắng mười mưa dám quản công”

 (Trần Tế Xương - Thương vợ)

* Thành ngữ:

- “Một duyên hai nợ” : do Tú Xương sáng tạo, từ khái niệm “nhân duyên” của nhà Phật. “Duyên” là nam, nữ gặp gỡ, hòa hợp, gắn bó thành vợ chồng. “Nợ” là trách nhiệm phải trả, là gánh nặng, khổ đau  “duyên” chỉ có một (ít) mà “nợ” đến hai (nhiều).

- “Năm nắng mười mưa” : chỉ sự vất vả, cực nhọc, chịu đựng dãi dầu nắng mưa

* Các cụm từ có dáng dấp thành ngữ:

- “Lặn lội thân cò” : Tú Xương đã sáng tạo ra thành ngữ mới từ hình ảnh “con cò” trong ca dao để chỉ sự vất vả của bà Tú

- “Eo sèo mặt nước” : lời tiếng kì kèo, có khi cãi cọ nơi bến sông đông người

 Khắc họa đậm nét hình ảnh bà Tú vất vả, đảm đương, tháo vát trong cuộc mưu sinh.

 Thành ngữ có cấu tạo ổn định, có giá trị ở những mặt sau:

 + Tính hình tượng

 + Tính khái quát

 + Tính biểu cảm

 + Tính cân đối

 

doc 6 trang Người đăng minh_thuy Lượt xem 8138Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Giáo án môn Ngữ văn 11 - Thực hành về thành ngữ, điển cố", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
THỰC HÀNH VỀ THÀNH NGỮ, ĐIỂN CỐ
1/ BÀI TẬP 1: SGK Tr.66
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng
 Eo sèo mặt nước buổi đò đông
 Một duyên hai nắng âu đành phận
 Năm nắng mười mưa dám quản công”
	(Trần Tế Xương - Thương vợ)
* Thành ngữ:
- “Một duyên hai nợ” : do Tú Xương sáng tạo, từ khái niệm “nhân duyên” của nhà Phật. “Duyên” là nam, nữ gặp gỡ, hòa hợp, gắn bó thành vợ chồng. “Nợ” là trách nhiệm phải trả, là gánh nặng, khổ đau ® “duyên” chỉ có một (ít) mà “nợ” đến hai (nhiều).
- “Năm nắng mười mưa” : chỉ sự vất vả, cực nhọc, chịu đựng dãi dầu nắng mưa
* Các cụm từ có dáng dấp thành ngữ:
- “Lặn lội thân cò” : Tú Xương đã sáng tạo ra thành ngữ mới từ hình ảnh “con cò” trong ca dao để chỉ sự vất vả của bà Tú
- “Eo sèo mặt nước” : lời tiếng kì kèo, có khi cãi cọ nơi bến sông đông người
® Khắc họa đậm nét hình ảnh bà Tú vất vả, đảm đương, tháo vát trong cuộc mưu sinh.
Þ Thành ngữ có cấu tạo ổn định, có giá trị ở những mặt sau:
	+ Tính hình tượng
	+ Tính khái quát
	+ Tính biểu cảm
	+ Tính cân đối
2/ BÀI TẬP 2: SGK tr.66
* Câu 1:
	“Người nách thước, kẻ tay đao
	 Đầu trâu, mặt ngựa ào ào như sôi”
	(Nguyễn Du - Truyện Kiều)
Thành ngữ “Đầu trâu mặt ngựa”
- Tính hình tượng, hàm súc: thể hiện sự hung hãn, ngang ngược của bọn sai nha đến nhà Thúy Kiều, khi gia đình nàng bị vu oan.
- Tính biểu cảm: Bộc lộ thái độ lên án, căm ghét đối với bọn sai nha.
* Câu 2:
	“Một đời được mấy anh hùng
	 Bõ chi cá chậu chim lòng mà chơi”
	(Nguyễn Du - Truyện Kiều)
Thành ngữ “Đầu trâu mặt ngựa”
- Tính hình tượng, hàm súc: bị giam hãm, sống tù túng, chật hẹp, mất tự do
- Tính biểu cảm: biểu hiện thái độ chán ghét đối với lối sống gò bó, mất tự do
* Câu 3:
	“Đội trời đạp đất ở đời
	 Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông”
	(Nguyễn Du - Truyện Kiều)
Thành ngữ “Đội trời đạp đất”
- Tính hình tượng, hàm súc: thể hiện hành động, lối sống tự do, ngang tàng, không chịu bó buộc, khuất phục bất cứ uy quyền nào.
- Tính biểu cảm: thái độ ca ngợi, ngưỡng mộ khí phách anh hùng của Từ Hải
3/ BÀI TẬP 3: SGK Tr.66
	“Giường kia treo cũng hững hờ
	 Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn”
	(Nguyễn Khuyến - Khóc Dương Khuê)
Ý nghĩa các điển cố:
- “Giường kia”: Trần Phồn đời Hậu Hán có người bạn thân là trừ Trĩ. Phồn dành riêng cho bạn một cái giường, khi bạn đến chơi thì mời ngồi, lúc bạn về lại treo lên.
- “Đàn kia”: Bá Nha và Chung Tử Kì là hai người bạn. Bá Nha là người chơi đàn giỏi, Chung Tử Kì có tài nghe tiếng đàn mà hiểu được Bá nha đang nghĩ gì. Sau khi Tử Kì mất, Bá Nha đã treo đàn không gãy nữ.
® Cả hai điển cố này đều thể hiện tình bạn thắm thiết keo sơn.
Þ Điển cố là những sự việc hay câu chữ trong sách đời trước được dẫn trong thơ văn.
4. BÀI TẬP 4: SGK Tr.67
* Câu 1:
	“Sầu đong càng lắc càng đầy,
	 Ba thu dọn lại một ngày dài ghê”
	(Nguyễn Du - Truyện Kiều)
- “Ba thu”: Nguyễn Du lấy ý từ Kinh Thi:
	“Nhất nhật bách kiến như tam thu”
	(Một ngày không thấy mặt nhau lâu như ba thu)
® Dùng điển cố này, Nguyễn Du muốn nói: khi Kim Trọng tương tư Thúy Kiều thì một ngày không gặp có cảm giác lâu ba năm.
* Câu 2:
	“Nhớ ơn chín chữ cao sâu,
	 Một ngày một ngả bóng dâu tà tà”
	(Nguyễn Du – Truyện Kiều)
- “Chín chữ”: Kinh thi kể chín chữ nói về công lao của cha mẹ đối với con cái là :
+ Sinh (sinh đẻ)
+ Cúc (nâng đỡ)
+ Phủ (vỗ về)
+ Súc (cho bú, cho ăn)
+ Trưởng (nuôi cho lớn, trưởng thành)
+ Dục (dạy dỗ)
+ Cố (trông nom, quan tâm)
+ Phục (theo dõi, uốn nắn)
+ Phúc (che chở, bảo vệ)
® Dẫn các điển cố này, Nguyễn Du muốn nói: Kiều nghĩ đến công to lớn của cha mẹ đối với mình mà chưa báo đáp được.
* Câu 3:
	“Khi về hỏi liễu Chương Đài
	 Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay”
	(Nguyễn Du - Truyện Kiều)
- “Liễu Chương đài”: Lấy từ chuyện xưa: Một người đi làm quan ở xa viết thư về thăm vợ có câu: “Cây liễu ở Chương Đài xưa xanh xanh nay có còn không, hay là tay khác đã vịn bẻ mất rồi?”
® Dẫn điển cố này, Nguyễn Du cho ta cảm nhận được : Kiều đang hình dung ngày Kim trọng trở lại thì Kiều đã thuộc về người khác mất rồi.
* Câu 4:
	“Bấy lâu nghe tiếng má đào
	 Mắt xanh chẳng để ai vào đó không”
	(Nguyễn Du - Truyện Kiều)
- “Mắt xanh”: Nguyễn Tịch đời Tấn, quý ai thì nhìn thẳng để lộ tròng mắt xanh (lòng đen của mắt)
® Dùng điển cố này, Nguyễn Du muốn nói: Từ Hải biết rằng dù phải tiếp khách ở lầu xanh nhưng Thúy Kiều chưa bằng lòng, vừa ý với ai. Câu nói thể sự quý trọng, đề cao phẩm giá của Thúy Kiều.
5/ BÀI TẬP 5: SGK Tr.67
	a. Này các cậu, đừng có mà ma cũ bắt nạt ma mới. Cậu ấy vừa mới đến, chân ướt chân ráo, mình phải tìm cách giúp đỡ.
a. Này các cậu, đừng có mà người cũ bắt nạt người mới. Cậu ấy vừa mới đến, còn lạ lẫm, mình phải tìm cách giúp đỡ.
	b. họ không đi tham quan, không đi thực tế theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa mà đi chiến đấu thực sự, đi làm nhiệm vụ của những chiến sĩ bình thường...
b. họ không đi tham quan, không đi thực tế một cách qua lao đại khái mà đi chiến đấu thực sự, đi làm nhiệm vụ của những chiến sĩ bình thường...
Þ Nếu thay các thành ngữ bằng các từ ngữ thông thường, tương đương về nghĩa thì có thể vẫn biểu hiện được nội dung cơ bản nhưng mất đi tính hình tượng và sắc thái biểu cảm.
6/ BÀI TẬP 6: SGK Tr.67
Thành ngữ:
Đặt câu:
- Mẹ tròn con vuông
- Chúc mừng em mẹ tròn con vuông
- Trứng khôn hơn vịt
- Từ nay cậu đừng tỏ ra trứng khôn hơn vịt nữa người ta cười cho đấy
- Nấu sử xôi kinh
- nhờ lo nấu xử xôi kinh mà kỳ này tới đậu đại học rồi
- Lòng lang dạ thú
- Hắn là tên lòng lang dạ thú, giết người không gớm tay
- Phú quý sinh lễ nghĩa
- Các em đừng có bày đặt phú quý sinh lễ nghĩa, lối sống đó không phù hợp với mình đâu
- Đi guốc trong bụng
- Em không nói thì chịu cũng đã đi guốc trong bụng em rồi
- Nước đổ đầu vịt
- Nói với nó như nước đổ đầu vịt chẳng ăn thua gì.
- Dĩ hòa vi quý
- Chị ấy là người dĩ hòa vi quý, chẳng ai hại bao giờ.
- Con nhà lính tính nhà quan
- Nhà thì nghèo nhưng lại quen thói con nhà lính tính nhà quan.
- Thấy người sang bắt quàng làm họ
- Ông này có tật xấu, cứ thấy người sang bắt quảng làm họ.
7/ BÀI TẬP 7: SGK Tr.67
Điển cố:
Đặt câu:
- Gót chân Asin
- Anh ta đã tìm ra gót chân Asin đối thủ rồi.
- Nợ như chúa chổm
- Dạo này, em nợ như chúa chổm chị ạ.
- Đẽo cày giữa đường
- Làm việc phải có bản lĩnh, tránh tình trạng đẽo cày giữa đường.
- Gã sở khanh
- Hắn ta là gã sở khanh đấy, liệu mà tránh xa.
- Sức trai Phù Đổng
- Các bạn trẻ đang tấn công vào lĩnh vực công nghệ thông tin, với sức trai Phù Đổng.

Tài liệu đính kèm:

  • docTHUC HANH VE THANH NGU DIEN CO.doc