Giáo án môn Ngữ văn khối 11 - Đề bài: Phân tích cảnh và tình trong bài thơ “Thu hứng” của Đỗ Phủ

Giáo án môn Ngữ văn khối 11 - Đề bài: Phân tích cảnh và tình trong bài thơ “Thu hứng” của Đỗ Phủ

Thu hứng số 1 của Đỗ Phủ là một bài thơ luật tiêu biểu, tuyệt hay nhưng cũng khó giảng và nói chung tất cả bài thơ Đường hay đều như thế: thâm thuý, hàm súc, kín đáo, tâm và cảnh, thi và hoạ, động và tĩnh. trộn lẫn, lắm lúc khó lòng phân biệt.

Có thể chia bào thơ thành hai phần để phân tích giống như trong hướng dẫn giảng dạy đã chia. Nhưng đặt vấn đề mục rạch ròi cho bốn câu đầu là cảnh thu và bốn câu sau là Nỗi lòng nhà thơ thì e rằng có phù hợp với logic hình thức nhưng chưa thực thâm nhập vào chiều sâu quan hệ biện chứng giưũa hai phần của bài thơ. Chúng ta biết rằng, đặc trưng của htơ cổ nói chung, thơ Đường nói riêng là “cái nhìn đồng nhất con người và vũ trụ” (“Thiên nhân tương đồng”). Cái “tôi” chỉ là một phần của cái ta vũ trụ. Do đó, các nhà thơ cổ nói cảnh cũng để nói tâm, nói tâm thường thông qua vẽ cảnh. Các nhà thơ Trung Hoa cưa thường nhắc đến mỗi quan hệ này. Đó là “Tâm nhập vu cảnh” (Vương Xương Linh), “Tình dĩ cảnh hội” (Viên Hoàng Đạo) hay “Cảnh dĩ tình hợp, tình cảnh dĩ sinh” (Vương Phu Chi). Ngay bốn câu đầu, qua những nét bút chấm phá vẽ cảnh đã toát lên nét nhìn đầy tâm trạng của nhà thơ. Chỉ có điều, cảnh ở đây dường như được vẽ bằng những nét bút có phần rõ ràng, “khách quan” hơn so với bốn câu sau: Có thời gian: Mùa thu, có địa điểm: Vu Sơn, Vu Giáp. Cảnh ở đây cũng có phần được cá biệt hoá với màu sắc hùng vĩ, độc đáo: núi non hiểm trở, sóng bọt lưng trời, mây sa mặt đất. Cảnh vật hiện lên dường như trên một đoạn phim lướt vội. Ống kính bắt đầu từ rặng phong tiêu điều với sương móc trắng xoá (Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm) (chữ “lác đác” trong bài dịch chưa thật sát với nghĩa nguyên bản), đến cảnh núi vu và kẽn vu hiu hắt, lia dần đến những đợt sóng vọt lêm lưng trời giữa lòng sông rồi dừng lại ở những đán mây sa sầm giáp mặt đất nơi cửa ải. Bốn câu thơ cũng làm ta nhớ đến những bức tranh thuỷ mặc với lối vẽ chấm phá tài tình. Cảnh vật hiện lên trong cái “thần”, cái “hồn” của nó. Nhưng sau bức tranh kia đã ẩn giấu bao nhiêu tâm trạng. Tâm trạng ấy trước hết thể hiện ở sự lựa chọn cảnh vật. Nhà thơ xưa “không đặt nhiệm vụ khám phá đôid tượng mình quan sát (dù bên trong hay bên ngoài) mà chỉ là sắp xếp, tỉa tót nó cho phù hợp với sự cảm nhận duy lí. thơ cổ không phân biệt rạch ròi chủ thể và khách thể (Vì vậy ở đây chúng ta không nên đi theo hướng ca ngợi bức tranh này là hiện thực, phản ánh đúng phong cảnh vùng Quý Châu, Tứ Xuyên). Ngay nét chấm phá đầu tiên “Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm” đã mở ra hướng lựa chọn. Cảnh sương móc trắng xoá là tiêu điều cả rừng phong làm ta nhớ đến những rừng phong, cây phong khác trong thơ cổ. Cây phong trong thơ Đường gắn với nỗi buồn, với chia li. Trong Tì bà hành “Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu”. Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san” đầy hắt trong mắt nàng Kiều.

 

doc 2 trang Người đăng minh_thuy Ngày đăng 29/04/2017 Lượt xem 899Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Giáo án môn Ngữ văn khối 11 - Đề bài: Phân tích cảnh và tình trong bài thơ “Thu hứng” của Đỗ Phủ", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đề bài: Phân tích cảnh và tình trong bài thơ “Thu hứng” của Đỗ Phủ.
Bài viết
Thu hứng số 1 của Đỗ Phủ là một bài thơ luật tiêu biểu, tuyệt hay nhưng cũng khó giảng và nói chung tất cả bài thơ Đường hay đều như thế: thâm thuý, hàm súc, kín đáo, tâm và cảnh, thi và hoạ, động và tĩnh... trộn lẫn, lắm lúc khó lòng phân biệt.
Có thể chia bào thơ thành hai phần để phân tích giống như trong hướng dẫn giảng dạy đã chia. Nhưng đặt vấn đề mục rạch ròi cho bốn câu đầu là cảnh thu và bốn câu sau là Nỗi lòng nhà thơ thì e rằng có phù hợp với logic hình thức nhưng chưa thực thâm nhập vào chiều sâu quan hệ biện chứng giưũa hai phần của bài thơ. Chúng ta biết rằng, đặc trưng của htơ cổ nói chung, thơ Đường nói riêng là “cái nhìn đồng nhất con người và vũ trụ” (“Thiên nhân tương đồng”). Cái “tôi” chỉ là một phần của cái ta vũ trụ. Do đó, các nhà thơ cổ nói cảnh cũng để nói tâm, nói tâm thường thông qua vẽ cảnh. Các nhà thơ Trung Hoa cưa thường nhắc đến mỗi quan hệ này. Đó là “Tâm nhập vu cảnh” (Vương Xương Linh), “Tình dĩ cảnh hội” (Viên Hoàng Đạo) hay “Cảnh dĩ tình hợp, tình cảnh dĩ sinh” (Vương Phu Chi). Ngay bốn câu đầu, qua những nét bút chấm phá vẽ cảnh đã toát lên nét nhìn đầy tâm trạng của nhà thơ. Chỉ có điều, cảnh ở đây dường như được vẽ bằng những nét bút có phần rõ ràng, “khách quan” hơn so với bốn câu sau: Có thời gian: Mùa thu, có địa điểm: Vu Sơn, Vu Giáp. Cảnh ở đây cũng có phần được cá biệt hoá với màu sắc hùng vĩ, độc đáo: núi non hiểm trở, sóng bọt lưng trời, mây sa mặt đất. Cảnh vật hiện lên dường như trên một đoạn phim lướt vội. Ống kính bắt đầu từ rặng phong tiêu điều với sương móc trắng xoá (Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm) (chữ “lác đác” trong bài dịch chưa thật sát với nghĩa nguyên bản), đến cảnh núi vu và kẽn vu hiu hắt, lia dần đến những đợt sóng vọt lêm lưng trời giữa lòng sông rồi dừng lại ở những đán mây sa sầm giáp mặt đất nơi cửa ải. Bốn câu thơ cũng làm ta nhớ đến những bức tranh thuỷ mặc với lối vẽ chấm phá tài tình. Cảnh vật hiện lên trong cái “thần”, cái “hồn” của nó. Nhưng sau bức tranh kia đã ẩn giấu bao nhiêu tâm trạng. Tâm trạng ấy trước hết thể hiện ở sự lựa chọn cảnh vật. Nhà thơ xưa “không đặt nhiệm vụ khám phá đôid tượng mình quan sát (dù bên trong hay bên ngoài) mà chỉ là sắp xếp, tỉa tót nó cho phù hợp với sự cảm nhận duy lí... thơ cổ không phân biệt rạch ròi chủ thể và khách thể (Vì vậy ở đây chúng ta không nên đi theo hướng ca ngợi bức tranh này là hiện thực, phản ánh đúng phong cảnh vùng Quý Châu, Tứ Xuyên). Ngay nét chấm phá đầu tiên “Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm” đã mở ra hướng lựa chọn. Cảnh sương móc trắng xoá là tiêu điều cả rừng phong làm ta nhớ đến những rừng phong, cây phong khác trong thơ cổ. Cây phong trong thơ Đường gắn với nỗi buồn, với chia li. Trong Tì bà hành “Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu”. Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san” đầy hắt trong mắt nàng Kiều.
Những nét vẽ cảnh tiếp theo dường như acàng tô đậm thêm cái nét hoang vắng, hui hắt, buồn bã trong tâm hồn nhà thơ. Đành rằng cảnh vật ở đây cũng có nét hùng vĩ của nó nhưng nét hùng vĩ không lấn át nhổi vẻ buồn, tàn tạ. Cái buònh, hui hắt tràn từ rừng đến núi.
Hai câu tiếp theo đối nhau vè ý và lời, tạo nên cảnh đối nghịch trong bức tranh “Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng, tái thượng phong vân tiếp đại âm” (Lưng trời sóng rợn lòng sông thắm, mặt đất mây đùn cửa ải xa) cho ta những ấn twongj trái ngược: cảnh vừa dữ dội, hoành tráng lại vừa bức bối, bị vây hãm không thoát được. Đúng là bức “tâm cảnh” trong con mắt một kẻ xa quê, nhớ quê, lòng buòn trũi nặng, đồng thời cũng bức rứt, bức bối, không yên khi nhìn về quê nhà và trông ra thế sự. Kim Thánh Thấn thật có lí khi bình rằng: “Ngước mắt nhìn song, chỉ thấy sóng vọt ngất trời mà đăm đăm trông lên ải, chỉ thất gió mây mịt mờ liền đất. Thực đúng đau tức, bi thương, khiến cho người ta lòng hết khí tuyệt”.
Bốn câu sau, tác giả tiếp tục phát triển đà cảm xúc của mình. Ở đây sự thể hiện nỗi lòng trực tiếp hơn, cụ thể hơn nhưng vẫn thâm trầm, kín đáo. Cái nhìn duy lí đã trừu tượng hoá những sự vật cụ thể. Tác giả nói đến hoa cúc, đến con thuyền nhưng chúng là “tâm” hay là “cảnh”, thật khó lòng phân biệt. “Tùng cúc lưỡng khai tha nhật nhật lệ” và “Cô Thu nhất hệ cố viên tâm”. Ở đâylời ít ý nhiều, không rõ hoa cúc nhỏ lệ hay thi nhân nhỏ lệ bên khóm cúc, không rõ dây buộc thuyền hay day thắt lòng người. Hỗ Sĩ Hiệp cho rằng những câu thoe này có thể hiểu hai cánh: “Cúc đa nở hoa hai lần và đã hai lần làm chảy dòng lệ cũ” hoặc có thể hiểu “nhìn cúc nở mà tưởng như cúc đã nhỏ lệ”. Dù hiểu theo cách nào thì cũng thấy rằng ở đây “cảnh” đã nhoa vào “tâm”, đã “hội” vào “tâm”. Tác giả đã đồng nhất: tình và cảnh, hiện tại và quá khứ, sự vật và con người. So sánh với hoàn cảnh nhà thơ, có thể hiểu Đỗ Phủ từ khi rời thành đô đến Quí Châu đã được hai năm, đã trải qua hai mùa thu. Dòng “lệ cũ” cảu nhà thơ không chỉ “tuôn” ra một lần mà đã nhiều lần rồi. Và đúng như có người nhận xét trong thơ ông già Thiếu lăng “nhà thơ của dân đen” này khá nhiều nước mắt.
Hai câu kết của nhà thơ này thật độc đáo, mở ra nhiều ý nghĩa . Trong thơ Đường, hai câu kết thường là tỏ lòng, nêu trực tiếp cảm xúc nhưng ở đây tác giả lại hướng nó về cảnh khách quan bên ngoài. Nhưng ở đoạn đầu, cảnh khách quan là “tĩnh” thì ở đây lại “động”. Cảnh rộn ràng hơn trong không khí “nơi nơi dao thước để may áo rét” và âm thanh tiếng cahỳ đập áo dồn về chiều trên thành Bạch đế. Nhịp thơ dường như cũng nhanh hơn, gấp hơn. Thế nhưng, đó chỉ là ngoại cảnh, tấm long nhà thơ chưa chắc đã có đổi thay. Bởi góc nhìn cảu nhà thơ vẫn là cái nhìn trong ánh chiều hui hắt. Tiếng đập áo buổi chiều trên thành Bạch cao ấy “thạch Bạch chày vang bóng ác tà” dễ đưa người ta đến những liên tưởng buồn. Nó dường như cùng hoà vào “gam” nhạc buồn của tiếng chày đập áo của người phụ nữ trong mùa thu trong thơ Bạch Cư Dị “Thu đến nhớ chồng đập lụa, gió trăng não lắm đá chày ơi”. Tiếng chày ấy đang báo hiệu một mùa đông đến gần, mùa đông với một kẻ thiếu cơm, thiếu áo, không nhà, ở nhờ trên đất khách và tấm long thì luôn nặng trĩu nỗilo và nổi nhớ.
Như vậy trên cái nền cảu cảnh thu với rừng thu, khí thu, hoa thu, tiếng thu, nhà thơ đã hoà vào đó tâm trạng của chủ thể trữ tình, một tâm trạng đượm buồn, da diết, sầu thương, khắc khoải trong tình quê nănhgj và nỗiâu lo kín đáo về thế sự.
(270 đề và bài văn THPT 10/trang226_ Đinh Trí Dũng)

Tài liệu đính kèm:

  • docPhan tich Thu hung.doc