Giáo án Ngữ văn 11 - Tiết 44: Hạnh phúc của một tang gia (trích số đỏ - Vũ Trọng Phụng)

Giáo án Ngữ văn 11 - Tiết 44: Hạnh phúc của một tang gia (trích số đỏ - Vũ Trọng Phụng)

I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT.

 1. Kiến thức :

- Giới thiệu một cây bút trào phúng xuất sắc giai đoạn 1930 – 1945.

- Sức tố cáo mạnh mẽ đối với xã hội trưởng giả thành thị đương thời bằng thái độ đả kích sâu cay trong nghệ thuật trào phúng bậc thầy của tác giả.

- Qua đoạn trích cho HS thấy rõ sự giả dối, lố lăng của đám con cháu đại bất hiếu trong gia đình cụ Cố Hồng.

 2. Kĩ năng:

- Đọc hiểu văn bản tự sự được viết theo bút pháp trào phúng.

 3. Thái độ :

- Giáo dục phong cách sống, thái độ sống lành mạnh, văn minh, có đạo lý.

 II. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

 - Phương pháp đọc hiểu, đọc diễn cảm, phân tích, giảng bình, so sánh kết hợp nêu vấn đề bằng câu hỏi gợi mở.

 - Trao đổi thảo luận nhóm.

 

doc 5 trang Người đăng hong.qn Lượt xem 2443Lượt tải 5 Download
Bạn đang xem tài liệu "Giáo án Ngữ văn 11 - Tiết 44: Hạnh phúc của một tang gia (trích số đỏ - Vũ Trọng Phụng)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Ngày soạn
Ngày giảng
Lớp 11A3
Lớp 11A4
	Tiết 44: Đọc văn:
HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA
(Trích Số đỏ - Vũ Trọng Phụng)
I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT.
 	1. Kiến thức :
- Giới thiệu một cây bút trào phúng xuất sắc giai đoạn 1930 – 1945.
- Sức tố cáo mạnh mẽ đối với xã hội trưởng giả thành thị đương thời bằng thái độ đả kích sâu cay trong nghệ thuật trào phúng bậc thầy của tác giả.
- Qua đoạn trích cho HS thấy rõ sự giả dối, lố lăng của đám con cháu đại bất hiếu trong gia đình cụ Cố Hồng.
 	2. Kĩ năng:
- Đọc hiểu văn bản tự sự được viết theo bút pháp trào phúng.
 	3. Thái độ :
- Giáo dục phong cách sống, thái độ sống lành mạnh, văn minh, có đạo lý.
	II. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
	- Phương pháp đọc hiểu, đọc diễn cảm, phân tích, giảng bình, so sánh kết hợp nêu vấn đề bằng câu hỏi gợi mở.
	- Trao đổi thảo luận nhóm.
 	III. PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
	1. Giáo viên : SGK, SGV, giáo án, đọc tài liệu tham khảo.
 	2. Học sinh : Chủ tìm hiểu bài qua hệ thống câu hỏi SGK.
	IV. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP
	1. Ổn định tổ chức lớp.
	2. Kiểm tra bài cũ: 5 phút
	a. Câu hỏi: 
	- Nêu ý nghĩa nhan đề của đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”?
	b. Đáp án: 
	tang gia > < hạnh phúc
	-> nghịch lí với quy luật đời thường. 
	-> giật gân, hài hước, phản ánh một sự thật mỉa mai, tàn nhẫn.
	Nhan đề phản ánh 1 sự mâu thuẫn trong tâm lí con người: 1 bên là sự 	hạnh phúc của con người, 1 bên là sự mất mát không thể bù đắp được, vậy 	mà chúng lại song hành, gắn kết với nhau, đúng là truyện bi hài đáng 	cười.
	Æ Kết luận: Như vậy, ngay nhan đề đã dự báo 1 màn bi hài kịch sắp diễn ra với nhiều cảnh nghịch lí, nhiều pha cười ra nước mắt
	3. Bài mới
Hoạt động 1 (1 phút) Khởi động
	Ở tiết học trước cô và các em đã bắt gặp sự nghịch lí trong tên nhan đề của đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”. Vậy niềm vui và hạnh phúc nào được thể hiện trong tang gia này, chúng ta tiếp tục tìm hiểu bài học ngày hôm nay.
Hoạt động của GV và HS
Nội dung cần đạt
Hoạt động 2 (20 phút)
Hướng dẫn HS tìm hiểu niềm vui, niềm hạnh phúc của các thành viên trong gia đình cụ cố tổ qua đời
GV: 
- Tại sao gia đình cụ cố Hồng có tang mà cái đại gia đình ấy lại "hạnh phúc"?
- Tại sao cụ cố tổ qua đời mà các thành viên trong gia đình lại vui vẻ?
GV: Hãy phân tích niềm vui của từng thành viên trong gia đình cụ cố tổ? Chỉ rõ yếu tố bi hài, tiếng cười phê phán, châm biếm của tác giả?
- Nhóm 1: Tìm hiểu về Cụ cố Hồng.
- Nhóm 2: Tìm hiểu ông Văn Minh.
- Nhóm 3: Tìm hiểu bà Văn Minh và cô Tuyết.
- Nhóm 4: Tìm hiểu về ông Phán mọc sừng, cậu Tú Tân, Xuân tóc đỏ.
GV giải thích:
(Nếu người chết có nhiều con cháu và con cháu càng khôn lớn bao nhiêu thì càng được coi là gia đình có phúc bấy nhiêu. Do đó để được những người đi đưa đám ma khen, cụ cố Hồng cố tình tỏ ra già yếu.)
(Ông Phán mọc sừng cũng thật sự sung sướng vì không ngờ rằng cái sừng trên đầu mình lại có giá trị đến thế và ông tin chắc rằng mình sẽ được trả công xứng đáng. Bởi lẽ, cụ cố tổ sở dĩ lăn đùng ra và cấm khẩu vì biết tin con rể mọc sừng - Cậu Tú Tân thì sướng điên người vì được dùng đến cái máy ảnh mới mua (khi chưa phát phục, cậu sốt ruột đến "điên người lên" vì cậu đã chuẩn bị mấy cái máy ảnh mà mãi không được dùng). Đây là cơ hội hiếm có để cậu Tú giải trí và chứng tỏ tài nghệ chụp ảnh của mình.)
GV: Niềm "hạnh phúc" còn lan sang cả những người ngoài tang quyến. Những ai có được niềm vui sướng từ cái chết của cụ cố tổ? Đâu là yếu tố đáng cười châm biếm?
Hoạt động 3 (10 phút)
Hướng dẫn HS tìm hiểu về “Đám ma gương mẫu”
GV: Cảnh đám ma gương mẫu được miêu tả như thế nào từ lúc "cất đám" tới lúc "hạ huyệt"? Theo em, đâu là tiếng cười trào phúng, châm biếm sâu cay của nhà văn?
GV: “Thật là một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu,” tác giả đã phê bình như thế về cái đám ma ấy. Vậy em hiểu lời bình này thế nào? (Nội dung, giọng điệu, thủ pháp trào phúng)
GV: Trong đoạn trích, có 2 lần tác giả miêu tả đám ma với chi tiết “đám cứ đi”. Theo em, tác giả có dụng ý gì ở đây?
Hoạt động 4 (5 phút)
Hướng dẫn HS tổng kết giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật.
GV: Xác định giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của đoạn trích?
2. Niềm vui, hạnh phúc của các thành viên trong gia đình khi cụ cố tổ qua đời.
a. Nguyên cớ của tấn bi hài kịch .
- Cụ cố tổ qua đời cũng đồng nghĩa với việc tờ di chúc của cụ đã tới lúc được thực thi. Nghĩa là khi cụ quy tiên thì các gia tài kếch xù của cụ mới được cho đám con cháu, dâu và rể "chứ không còn là lý thuyết viển vông nữa".
- Tình huống này đã làm bộc lộ không biết bao nhiêu mâu thuẫn trào phúng khác đủ loại và làm đậm nét hàng loạt chân dung hài hước.
b. Niềm hạnh phúc của những người trong và ngoài tang quyến.
 * Niềm hạnh phúc của những người trong gia đình cụ cố tổ.
 - Cụ cố Hồng:
 + Tuy 50 tuổi nhưng lâu nay chỉ mơ ước được gọi là cụ cố.
 + Dịp may đã tới, cụ nhắm nghiền mắt nghĩ đến lúc được mặc áo xô gai.
 + Lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu máo diễn trò già nua, ốm yếu giữa phố đông người để cho thiên hạ phải trầm trồ: "Ui kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa!".
Ž Nhân vật này điển hình cho loại người ngu dốt, háo danh.
- Văn Minh - nhà cải cách y phục Âu hóa "phân vân", "đăm đăm chiêu chiêu", "vò đầu rứt tóc" nhưng không phải vì cái chết của cụ cố tổ mà là làm thế nào để cái chúc thư kia sớm đi vào thời kì thực hành và xử trí với Xuân Tóc Đỏ ra sao khi hắn có "2 cái tội nhỏ" nhưng "1 cái ơn to".
Ž Đây là cơ hội để ông quảng cáo hàng, để kiếm tiền.
- Bà Văn Minh được mặc đồ xô gai tân thời và được dịp lăng - xê những mốt y phục táo bạo nhất.
- Cô Tuyết được dịp "mặc bộ y phục Ngây thơ - cái áo dài voan mỏng, trong áo coóc - sê, trông như hở cả nách và nửa vú - nhưng mà viền đen, và đội một cái mũ mấn xinh xinh" đồng thời "trên mặt lại hơi có một vẻ buồn lãng mạn rất đúng mốt 1 nhà có đám".
Ž Cái chết của cụ cố tổ là cơ hội, là "sàn diễn thời trang" để bà Văn Minh và Tuyết thể hiện, trưng diện. Giọng văn mỉa mai, phô bày sự lố bịch, thiếu văn hóa, vô đạo đức.
- Ông Phán mọc sừng sung sướng, mừng thầm với tài sản kếch xù, “Tự hào” về “giá trị đôi sừng hươu vô hình trên đầu”
Ž Đây là kẻ trục lợi, vô lương tâm, không biết liêm sỉ.
 - Xuân Tóc Đỏ thì danh giá và uy tín càng cao vì chính nhờ hắn mà cụ cố tổ chết (Xuân có công tố cáo việc ông Phán mọc sừng trước mặt cụ cố tổ).
 * "Niềm hạnh phúc" còn lây ra cả những người ngoài tang quyến.
 - Hai viên cảnh sát Min Đơ và Min Toa đang lúc thất nghiệp thì được thuê giữ trật tự cho đám tang, đã "sung sướng cực điểm".
Ž Đáng cười: cảnh sát mà lại thích thú được thuê giữ trật tự cho đám ma.
 - Xã hội trưởng giả bè bạn cụ cố Hồng được dịp khoe các thứ huy chương, phẩm hàm nào là Bắc Đẩu bội tinh, Long bội tinh, nào là Cao Mến bội tinh, Vạn Tượng bội tinh và các thứ râu ria trên mép, dưới cằm, "hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đen hoặc hung hung, hoặc lún phún hay rầm rậm, loăn quăn".
Ž Đáng cười: sự phô trương không đúng lúc, đúng chỗ. Hóa ra cái vẻ uy nghi, trưởng giả chỉ là cái vỏ để giấu bên trong bản chất "dê cụ".
 - Sư cụ Tăng Phú thì "sung sướng mà vênh váo" vì tin chắc rằng trong số thiên hạ đứng xem ở các phố thế nào cũng có người nhận ra rằng "sư cụ đã đánh đổ được Hội Phật giáo".
Ž Chi tiết hài hước: Ông sư này không đến làm lễ mà để thiên hạ nhận ra mình với thành tích: đánh đổ Hội Phật giáo.
 3. Cảnh "đám ma gương mẫu".
- Một "đám ma to" được tổ chức "theo cả lối Ta, Tàu, Tây, có kiệu bát bát cống, lợn quay đi lọng, cho đến lốc bốc xoảng và bú dích".
Ž Cái đáng cười: đám ma hổ lốn, tạp pí lù, đám ma mà như đám rước.
 - Người đi đưa: đông đúc, sang trọng, nam nữ "chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau, bằng những vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma"
Ž Cái cười toát lên từ những hành vi, dáng điệu, ngôn ngữ hài hước của 2 đám người: đám bạn cụ cố Hồng và đám "giai thanh gái lịch". Đám tang thành đám diễn trò bịp bợm, lố lăng, đồi bại về văn hóa.
 - Hàng phố "nhốn nháo cả lên khen đám ma to", họ chú ý kiểu quần áo tang của tiệm may Âu hóa Ž Đám người không phân biệt được phải trái, đúng sai chủ yếu là thỏa mãn sự hiếu kì, thích cái lạ đời, dị thường
- Giọng điệu, thái độ của nhà văn đối với xã hội thượng lưu.
 - Bằng một giọng văn mỉa mai và thủ pháp cường điệu hóa, Vũ Trọng Phụng đang giễu cợt những kẻ đang tổ chức và tham gia đám tang.
- Điệp khúc "Đám cứ đi" có ý nghĩa hài hước đặc biệt. Miêu tả cái "đám cứ đi", nhà văn muốn phơi bày tất cả sự giả dối, bịp bợm, vô đạo đức của cái xã hội thượng lưu đang hãnh tiến, đắc chí.
- Bên cạnh giọng văn mỉa mai, Vũ Trọng Phụng đã dựng lên 1 loạt các chân dung biếm họa bao gồm các cá nhân, tập thể. Kết hợp với sự tương phản tạo nên cái nghịch dị, làm bật lên tiếng cười trào phúng.
III. TỔNG KẾT. 
- Giá trị nội dung: Vạch trần sự thật xấu xa của xã hội thượng lưu, được gọi là "Âu hóa", "văn minh". Qua đoạn trích cũng gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về sự tha hóa đạo đức của một bộ phận người dân trong xã hội Việt Nam trước đây.
- Giá trị nghệ thuật: 
 + Bút pháp châm biếm mãnh liệt.
 + Có nhiều tình huống khác nhau, tạo nên một màn hài kịch phong phú.
 + Thủ pháp tương phản, đối lập với phóng đại tạo nên những bức chân dung biếm họa độc đáo.
Hoạt động 5 (4 phút)
Hướng dẫn HS củng cố, luyện tập, dặn dò bài mới.
	4. Củng cố, luyện tập.
	- Tìm trong đoạn trích, 10 câu văn thể hiện giọng điệu mỉa mai của tác giả. Phân tích ý nghĩa của các câu văn đó.
	- Xác định chủ đề của đoạn trích (Phê phán mãnh liệt bản chất giả dối, lố lăng, đồi bại của xã hội thượng lưu ở thành thị những năm trước CMT8)
	5. Dặn dò.
	- Chuẩn bị bài tiếp theo “Phong cách ngôn ngữ báo chí”

Tài liệu đính kèm:

  • docTuan_12_Hanh_phuc_cua_mot_tang_gia.doc